DIỄN ĐÀN NHÀ TRỌ
Chào mừng bạn đến với diễn đàn nhatrovn.tk
Để trở thành thành viên của diễn đàn xin mời bạn đăng kí.
Nếu chưa muốn đăng kí mời bạn chọn do not display again.
Chúc bạn vui vẻ với diễn đàn. Mong bạn ủng hộ. ^_^

DIỄN ĐÀN NHÀ TRỌ


 
IndexPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 post thử thế nào

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
duyduy_1368



Tổng số bài gửi : 12
Join date : 15/11/2010

Bài gửiTiêu đề: post thử thế nào   Wed Nov 24, 2010 1:15 pm

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG

§1.1; Khái niệm, các đặc điểm làm việc.
1.1.1; Khái niện chung:
Điện tàu thủy là một môn học nghiên cứu về các hệ thống, thiết bị điện trên tàu biển nhằm mục đích vận hành, khai thác có hiệu quả cao trong quá trình vận tải hàng hóa bằng đường biển đồng thời đảm bảo an toàn cho con người, hàng hóa và thiết bị khi vận hành tàu.
1.1.2; Điều kiện làm việc của các thiết bị điện tàu thủy.
1.2.1, Điều kiện môi trường:
- Nhiệt độ môi trường: từ - 25OC đến 45OC.
- Độ ẩm không khí: đến 98%.
- Nồng độ hơi muối.
- Nồng độ hóa chất: Các thiết bị điện lắp đặt dươí buồng máy thường xuyên tiếp xúc với hơi dầu, khói. Các thiết bị lắp đặt trên các tàu chuyên dụng như tàu dầu, tàu gas, tàu chở hoá chất…thì đòi hỏi các thiết bị điện phải thỏa mãn các điều kiện làm việc riêng phù hợp.
1.2.2, Điều kiện lắp đặt và chấn động:
- Tàu bị lắc ngang do sóng gió với góc nghiêng động đến 22,5O.
- Tàu bị nghiêng ngang do xếp dỡ hàng hoá với góc nghiêng tĩnh đến 15O.
- Tàu bị lắc dọc do sóng gió với góc nghiêng động đến 7,5O.
- Tàu bị nghiêng dọc do xếp dỡ hàng hoá với góc nghiêng tĩnh đến 5O.

§1.2; Các tham số định mức và chỉ số chất lượng thiết bị điện tảu thủy.
1.2.1; Các tham số định mức:
- Điện áp định mức: Trên tàu thủy thường sử dụng các lọai điện áp thấp nhằm bảo đảm an tòan cho con người với các chuẩn điện áp như sau:
+ Điện áp hệ thống điều khiển: 12V hoặc 24V.
+ Điện áp hệ thống chiếu sáng: 100/110V hoặc 200/220V.
+ Điện áp hệ thống động lực: 380V hoặc 440V. Các biệt có những tàu chuyên dụng có thể có các mức điện áp cao hơn.
- Tần số định mức: Trên tàu thủy thường sử dụng các lọai tần số chuấn theo các Quốc gia như sau 50Hz ứng với lưới 380V, 60Hz ứng với lưới 44oV. Các biệt có những thiết bị cần có tần số cao hơn thì dùng biến tần như la bàn con quay.
- Dòng điện định mức: là khả năng chịu đưng lâu dài của trạm phát điện.
- Công suất định mức: Khả năng chịu tải của trạm phát.
1.2.2; Các chỉ số chất lượng:
Chương 2: MÁY PHÁT ĐIỆN VÀ THIẾT BỊ NGUỒN ĐIỆN NĂNG
§2.1; Tổ hợp máy phát điện.
2.1.1; Tổ hợp diesel lai máy phát điện:
Hiện nay trên các tàu thủy thường sử dụng tổ hợp gồm động cơ diesel lai máy phát điện. Động cơ diesel thường sử dụng loại trung tốc hoặc cao tốc. Máy phát điện thường sử dụng loại phát xoay chiều đồng bộ 3 pha điện áp 380V tần số 50Hz hoặc điện áp 440V tần số 60 Hz..

Hình 2.1 mô tả cấu trúc của một tổ hợp diesel – máy phát điện thông dụng. Động cơ diesel lai máy phát điện qua bộ truyền động được điều khiển bởi bộ điều khiển diesel (ĐKD). Thông thường bộ điều khiển sẽ điều khiển các quá trình như khởi động, dừng động cơ (KĐ), điều chỉnh tốc độ (DT), kiểm tra và báo động các thông số của diesel (KT), Máy phát điện xoay chiều 3 pha được điều khiển bởi bộ điều khiển máy phát (ĐKG) bao gồm các quá trình như điều khiển quá trình đồng bộ (DB), điều khiển điện áp (AVR), điều khiển việc phân chia tải (PT), Điều khiển bảo vệ (BV), điều khiển aptomat (CB)….
2.1.2; Tổ hợp turbin - máy phát điện:
Trên một số tàu đặc biệt là các tàu siêu trọng hay tàu chở chất dễ cháy nổ để đảm bảo an toàn cháy nổ người người ta trang bị các nồi hơi công suất lớn để tạo hơi dùng cho việc vận hành các máy móc thiết bị trong đó có máy phát điện. Với tổ hợp turbin lai máy phát động cơ sơ cấp lai máy phát là các turbin hơi.
Cấu trúc cơ bản của hệ thống này bao gồm các khối sau: Nồi hơi (NH) dùng để sinh ra hơi với áp lực cần thiết để tạo năng lượng cấp cho turbin (TB), các quá trình điều khiển nồi hơi bao gồm quá trình đốt lờ, quá trình duy trì áp lực hơi, quá trình điều khiển báo động, kiểm tra và bảo vệ nồi hơi,. quá trình cấp nước nồi hơi….Thiết bị turbin dùng để biến năng lượng hơi nước thành cơ năng chuyển qua trục máy phát, hệ thống điều khiển turbin cũng bao gồm các quá trình điều chỉnh tốc độ turbin, phân chia tải tác dụng (Bằng cách điều chỉnh lưu lượng hơi vào turbin), điều chỉnh quá trình khởi động, dừng turbin, điều chỉnh quá trình kiểm tra, bảo vệ turbin. .. Cấu trúc và điều khiển thiết bị phát điện cũng tương tự như trong tổ hợp ndiesel lai máy phát’
Ngoài ra cũng còn có các tổ hợp máy phát khác nnhư các tổ hợp turbin khí, thủy … những tổ hợp này ít đượng sử dụng trên tảu thủy.


§2.2; Máy phát điện đồng bộ.
2.2.1; Cấu tạo cơ bản:
Máy phát điện đồng bộ về kết cấu rotor thường có hai loại là máy phát cực ẩn và máy phát cực hiện, hai loại máy này chỉ khác nhau phần rotor. Cấu trúc chung thường có 2 phần: phần quay (rotor) và phần tĩnh ( stator), hoặc theo kết cấu bao gồm 2 phần chính là mạch điện và mạch từ.
2.2.1.1, Stator:
- Mạch từ: Được chế tạo từ các lá thép kỹ thuật điện có độ dày từ 0,3-0,5 mm dập hình tròn phía trong có xẻ rãnh để đặt cuận dây, các lá thép được ghép cách điện với nhau tạo thành hình trụ rỗng như trên hình 2.3. Ngoài ra trong phần mạch từ có thể có các lỗ để tăng cường làm mát. Việc dùng các lá thép kỹ thuật điện ghép lại nhằm mục đích để giảm dòng Fuco.

- Mạch điện: Gồm 03 cuộn dây cuộn dây đặt lệch nhau trong không gian 120o gọi là cuộn dây phần ứng. Đây quấn được chế tạo từ dây đồng hoặc hợp kim có độ dẫn điện cao, chịu được nhiệt độ bên ngoài bọc cách điện bằng emay, men
cách điện, tơ sợi tổng hợp, hoặc sợi thuỷ tinh. Các cuộn dây được quấn thành các bin dây cách điện với nhau và cách điện với mạch từ, các bin dây được nối nối tiếp hoặc song song với nhau. Các quận dây được quấn theo kiểu xếp (xếp đơn, xếp kép), sóng (sóng đơn, sóng kép) hoặc đồng tâm.


2.2.1.2, Rotor:
- Mạch từ:
+ Loại cực lồi (cực hiện): Bao gồm gông từ làm bằng thép đúc gắn cùng trục, cực từ Được chế tạo từ các lá thép kỹ thuật điện thành hình dạng cực và được cố định vào gông từ. Hình 2.3
+ Loại cực lõm (cực ẩn) hình 2.4: Bao gồm mạch từ làm bằng thép đúc gắn cùng trục, phiá ngoài xẻ rãnh để đặt cuận dây. Chu vi phần xẻ rãnh không quá 2/3 chu vi toàn bộ rotor.

- Dây cuấn: là cuận dây một chiều với lọa rotor cực hiện thì dây cuấn được quấn trên cực từ, mỗi cực từ là một cuận dây, việc nối các cuận dây trên các cực từ phải đảm bảo sao cho thứ tự cực từ chạy dọc theo chu vi của rotor. Với loại cực ẩn thì dây cuấn được quấn thành từng bin dây được đặt trong rãng của rotor và cách điện với rotor. Các bin dây cũng được đấu nối sao cho thứ tự cực từ cũng chạy theo chu vi của rotor như trong loại rotor cực lồi.


2.2.1.3, Các bộ phận khác:
- Vỏ máy: thường làm bằng gang hoặc hợp kim đúc phiá ngoài có tạo rãnh để tăng cường khả năng tỏa nhiệt. hai đầu có các nắp máy, trên nắp máy có các ổ đỡ để giảm ma sát giữa phần quay và phần tĩnh.
- Hộp nối dây: các đầu dây được đặt trong hộp kín nước, có trụ nối để nối với mạch ngòai.
- Bộ phận làm mát thường là cánh quạt gắn trên đầu trục máy.
- Vành trượt, chổi quét: dùng để đưa dòng kích từ vào rotor, vành trượt được chế tạo bằng đồng đặt trên trục và cách điện với trục, chổi quét được chế tạo bằng than hoặc đồng gắn trên giá với hệ thống lò so ép để tăng khả năng tiếp xúc với vành trượt.
tải thay đổi).
- Trên tàu thủy ngày nay đa phần người ta sử dụng loại máy phát đồng bộ không chổi than. Bản chất cuả máy không chổi than là một tổ hợp gồm có 2 máy phát đồng bộ và bộ chỉnh lưu quay đặt trong rotor. Trong đó máy phát chính có phần ứng đặt ở stator, phần cảm (kích từ) đặt trong rotor; ngược lại máy phát kích từ lại có phần ứng đặt ở rotor, phần cảm (kích từ) đặt ở ngoài stator. Để cấp dòng 1 chiều cho kích từ của máy phát chính người ta dùng bộ chỉnh lưu 3 pha chỉnh lưu nguồn xoay chiều từ cuận dây phần ứng của máy phát kích từ đặt trong rotor cho nên còn gọi là bộ chỉnh lưu quay.
2.2.2; Nguyên lý làm việc:
Khi cuộn dây kích từ được cấp dòng điện một chiều DC thì rotor trở thành một nam châm điện, theo cách nối cuận dây rotor mà các cực từ N-S được hình thành xen kẽ dọc theo chu vi của rotor. Nam châm điện đó tạo ra từ trường có từ thông Φ và độ lớn của từ thông Φ tỷ lệ với giá trị của dòng điện kích từ theo biểu thứ:
Φ = K.Ikt (2-1)
Khi rotor được quay bởi động cơ sơ cấp thì từ trường kích từ sẽ là từ trường quay so với Stator và có tốc độ là n,. Từ trường này sẽ quét qua mặt phẳng các cuộn dây 3 pha làm suất hiện trong cuộn dây 3 pha các sức điện động, vì 3 cuận dây phần ứng đặt lệch nhau 120O điện cho nên các sức điện động cũng lệch nhau 120O . Giá trị tức thời của các sức điện động được tính theo biểu thức:
eA(t) = E max sinωt (V)
eB(t) = E max sin(ωt -1200) (V) (2-2)
eC(t) = E max sin(ωt - 2400) (V)
Trong đó:
- eA(t), eB(t), eC(t) là các sức điện động tức thời của các pha của máy phát đồng bộ.
- Emax = 4,44.k.f.Φmax.w: giá trị cực đại của sức điện động với:
+ k là hệ số cấu tạo có liên quan tới kích thước dây quấn
+ w là số vòng dây của cuộn dây máy phát
+ f là tần số của s.đ.đ được hình thành.
+ Φmax. là giá trị cực đại của từ thông.
- là tốc độ góc của rotor với p là số cặp cực.
Khi máy mang tải trong cuận dây ba pha sẽ xuất hiện hệ thống dòng 3 pha chạy trong 3 cuận dây đặt lệch nhau 120O cho nên từ trường do chúng sinh ra là từ trường quay cũng có tốc độ quay là:
đúng bằng với tốc độ quay của rotor. Chính vì vậy máy phát điện được gọi là máy phát đồng bộ.
2.2.3; Các đặc tính của máy phát đồng bộ:
Để nghiên cứu các đặc điểm và chế độ làm việc nhằm tìm ra qui luật điều khiển và khai thác các máy phát điện xoay chiều chúng ta cần thiết phải nghiên cứu các đặc tính của nó đó là các đặc tính sau:
- Đặc tính không tải: là mối quan hệ giữa sức điện động (hay điện áp máy khi không tải) của máy phát và dòng điện kích từ khi tốc độ rotor là định mức, máy không mang tải nghĩa là:
U = E = f (Ikt) Khi It = 0, f = cont.
Đặc tính không tải được mô tả trên hình 2.5.




- Đặc tính ngoài: là mối quan hệ giữa điện áp trên cực của máy phát và dòng điện tải khi tốc độ rotor là không đổi, tính chất tải không thay đổi và dòng kích từ không đổi nghĩa là:
U = f (IT) Khi Ikt = const, f = const, cosφ = const.
Đặc tính ngoài được mô tả trên hình 2.6.
- Đặc tính tải: là mối quan hệ giữa điện áp trên cực của máy phát và dòng điện kích từ khi tốc độ rotor là không đổi, tính chất tải không thay đổi và dòng kích từ không đổi nghĩa là:
U = f (IkT) Khi IT = const, f = const, cosφ = const.
Đặc tính tải được mô tả trên hình 2.7.


- Đặc tính điều chỉnh: là mối quan hệ giữa dòng điện kích từ và dòng điện tải điện áp trên cực máy phát không đổi, khi tốc độ rotor là không đổi và tính chất tải không thay đổi nghĩa là:
IT = f (IkT) Khi U = const, f = const, cosφ = const.
Đặc tính điều chỉnh được mô tả trên hình 2.8.


§2.3; Máy phát điện một chiều.
2.3.1; Cấu tạo cơ bản:
Máy phát điện một chiều theo nguyên lý kích từ chia làm hai loại: máy phát kích từ độc lập và máy phát tự kích từ. Máy phát tự kích từ bao gồm có ba loại là máy phát kích từ song song, máy phát kích từ nối tiếp và máy phát kích từ hổn hợp. Cấu tạo cơ bản cuả máy phát điện một chiều được biểu diễn trên hình vẽ 2.9 bao gồm các bộ phận cơ bản sau:

1. Stator chế tạo từ thép đúc
2. Cuộn kích từ
3. Rotor cùng trục và cánh quạt thông gió
4. Cổ góp điện
5. Nắp máy bằng thép đúc với ổ đỡ
6. Giá đỡ và hộp chứa chổi than
7. Cực từ thép đúc
2.3.1.1, Stator (Phần cảm):
- Mạch từ: bao gồm các cực từ và vỏ máy có cấu tạo như sau:
+ Các cực từ cũng chế tạo bằng thép đúc, phần mỏm cực là phần chế tạo từ các lá thép kỹ thuật điện để giảm dòng Fuco, cực từ của máy một chiều có các cực từ chính và cực từ phụ. Cực từ chính dùng để tạo từ trường kích từ từ chính trên đó quấn cuộn dây kích từ chính. Cực từ phụ đặt xen kẽ với cực từ chính trên đó quấn cuộn dây phụ dùng để cải thiện quá trình đảo chiều trong máy điện một chiều. Số lượng cực chính và phụ luôn bằng nhau và là số chẵn, chẳng hạn 2/4/8/16/32…. Một số máy điện công suất nhỏ không có các cực phụ.
- Mạch điện: mạch điện trên stator của máy phát một chiều là cac cuận dây kích từ. Cuận dây kích từ chế tạo từ dây đồng tiết diện tròn, vuông hay hình chữ nhật bên ngoài có phủ cách điện bằng emay hoặc sợi coton thủy tinh, dây dẫn được quấn thành cuộn và lồng vào cực từ và cách điện với cực từ và vỏ máy.
Các cuộn dây kích từ phải đấu phù hợp để tạo thành các cực từ theo thứ tự liên tiếp N-S-N-S… dọc theo chu vi của stator, đồng thời đảm bảo. Có hai cách nối các cuộn kích từ với nguồn điện là nối song song (kích từ song song), hoặc nối tiếp (kích từ nối tiếp) với phần ứng. Trên một cực từ chính có thể có một cuộn dây kích từ song song (máy kích từ song song), hoặc một cuộn dây kích từ nối tiếp (máy kích từ nối tiếp), hoặc cả hai cuộn kích từ (máy kích từ hỗn hợp).
Trên cực từ phụ là cuộn dây dòng điện được mắc nối tiếp với phần ứng có tác dụng cải thiện quá trình đảo chiều, giảm tia lửa ở chổi than và cổ góp.
- Vỏ máy điện chế tạo bằng thép đúc có dụng dẫn từ và bảo vệ máy,
2.3.1.2, Rotor (Phần ứng):
- Mạch từ:
Mạch từ của rotor máy điện một chiều được chế tạo bằng các lá thép kỹ thuật điện dập hình tròn, phía ngoài có xẻ rãnh để đặt cuộn dây, phía chính giữa có lỗ để gắn trục và một số lỗ để làm mát. Các lá thép được ghép lại theo hình trụ chính giữa là trục máy. Mạch từ được làm bằng các lá thép kỹ thuật điện ghép cách điện với nhau để hạn chế dòng phucô.
- Mạch điện:
Cuộn dây mạch điện được chế tạo bằng đồng tiết diện tròn, vuông hay hình chữ nhật bên ngoài có phủ cách điện bằng emay hoặc sợi coton thủy tinh. Dây cuốn được quấn thành các bin dây đặt trong rãnh của mạch từ rotor và cách điện với mạch từ. Các bin dây được đấu nối tiếp với nhau và ghép thành một số nhánh song song nhau, hai đầu của mỗi bin dây được nối ra hai phiến góp. Các bin dây đặt trong rãnh mạch từ và được quấn theo kiểu xếp (xếp đơn, xếp kép), sóng (sóng đơn, sóng kép) hoặc đồng tâm.
- Cánh quạt làm mát được gắn với một phía trục rotor
- Trục động cơ được làm bằng thép đúc và quay trên hai ổ đỡ hoặc vòng bi.
2.3.1.3, Cổ góp - chổi than và các phần khác:
Cổ góp và chổi than là một bộ phận rất quan trọng của máy điện một chiều, nó vai trò như là một bộ chỉnh lưu (đối với máy phát điện) hoặc bộ nghịch lưu (đối với động cơ điện).
- Cổ ghóp điện được chế tạo bằng các phiến đồng ghép cách điện với nhau bằng meca thành hình trụ rỗng và đặt cách điện với trục máy. Số lượng phiến góp đúng bằng số lượng bin dây.
- Chổi than dùng để đưa điện ra ngoài (máy phát điện) hoặc đưa điện vào rotor ( động cơ điện). Chổi than được chế tạo bằng graphít có độ cứng tuỳ theo tốc độ của động cơ, số lượng và kích thước của chổi than trên một cực phụ thuộc mật độ dòng điện chạy qua. Chổi than được đặt trong hộp chổi than và d0ược ép trên mặt cổ góp bởi các lò xo, có thể điều chỉnh được lực căng để khắc phục tia lửa điện.




Hộp chổi than được gắn cố định trên giá chổi than, giá chổi than được gắn cách điện với vỏ máy. Vị trí giá chổi than có thể điều chỉnh xoay tròn dọc theo chu vi của cổ góp nhằm mục đích điều chỉnh theo đường thung tính vật lý của cựu từ. Có bao nhiêu cặp cư từ thì có bấy nhiêu bộ chổi than.
- Ngoài các phần chính nêu trên máy điện một chiều còn có các phần khác như nắp máy trên đó có các ổ đỡ cố định, các hộp nối dây, bệ máy và puli nối trục máy điện với máy lai.
2.3.2; Nguyên lý hoạt động của máy điện một chiều:
- Nguyên tắc tạo sức điện động của máy phát điện một chiều:
Để đơn giản chúng ta có thể xét nguyên lý hoạt động của một máy phát điện một chiều
thông qua một máy điện với chỉ một bin dây như sau:

Hình 2.10

Giả sử có một khung dây ABCD quay trong từ trường đều có cảm ứng từ B với một tốc độ quay không thay đổi ω. Khi đó các thanh dẫn AB và CD của khung dây sẽ cắt từ trường cho nên trong các thanh dẫn xuất hiện các sức điện động. Chiều sức điện động được xác định theo qui tắc bàn tay phải, tại vị trí trong hình vẽ chiều sức điện động trong thanh dẫn AB là từ A đến B, chiều sức điện động trong thanh dẫn CD là từ C đến D. Độ lớn của sức điện động được xác định theo biểu thức sau:
(2-3)
Trong đó :
+ là vận tốc góc của khung dây,
+ là vận tốc của thanh dẫn.
+ B là cảm ứng từ.
+ l là chiều dài tác dụng của thanh dẫn.
+ r là bán kính khung dây với cạnh quay.
Trong máy điện giả thiết cuộn dây có W vòng, và có tổng số N thanh dẫn, các thanh dẫn được nối nối tiếp và ghép thành a nhánh song song với nhau khi đó sức điện động của phần ứng là:
(2-4) Trong đó :
+ Ce được gọi là hệ số cấu trúc máy: .
+ p: là số cặp cực của máy phát.
Do hai cạnh khung dây được gắn với hai vành góp khác nhau nên khi khung quay được 180O thì sức điện động trong các thanh dẫn AB và CD đảo chiều nhưng đầu của khung dây cũng thay đổi vị trí tiếp xúc với vành góp kết quả là chổi than E luôn luôn là cực dương, chổi than F luôn luôn là cực âm. Vì vậy có thể ví chổi than và cổ góp như là một bộ chỉnh lưu cơ khí.nắn dòng điện xoay chiều trong rotor thành dòng một chiều đưa ra ngoài.
- Phương trình cân bằng điện áp
Với máy phát điện một chiều ta có công thức cân bằng điện áp sau:
Eư = U + Iư.Rư (2-5)
Trong đó
+ U là điện áp trên cực máy phát.
+ Rư là điện trở thuần của cuộn dây phần ứng.
+ Eư là s.đ.đ của máy phát
2.3.3; Các đặc tính:
- Đặc tính không tải
Là mối quan hệ giữa s.đ.đ không tải của máy phát với dòng điện kích từ trong cuộn dây kích từ khi tốc độ quay của máy phát không đổi: E0 = f(Ikt) với n =const.
Đặc tính không tải của máy phát một chiều được mô tả trên hình 2.11, đó là đường đặc tính theo đường cong từ hóa.
Điều kiện để máy một chiều tự kích được là:
+ Máy phát phải có từ dư.
+ Chiều của từ trường kích từ phải cùng chiều với chiều từ dư.
+ Tổng trở trong mạch kích từ nhỏ hơn tổng trở tới hạn Rkt< Rth.

Hình 2.11.
- Đặc tính ngoài;
Là quan hệ giữa điện áp trên cực máy phát U với dòng điện tải Iư khi tốc độ quay
n = const. Đặc tính ngoài của máy phát một chiều được mô tả trên hình 2.12.
Đường đặc tính a là đặc tính của máy phát một chiều kích từ độc lập, theo công thức
U = Eư - IưRư; khi Eư = const nếu dòng Iư tăng lên thì điện áp U sẽ giảm xuống. Mặt khác do phản ứng phần ứng có tính chất khử từ nên thực tế đường đặc tính ở vùng dòng tải lớn hơn dòng định mức thì đặc tính bị cong đi không còn là đường thẳng nữa.


Hình 2.12.
Đường đặc tính b là đặc tính của máy phát điện một chiều kích từ song song, đặc tính ngoài của máy kích từ song song mền hơn đặc tính ngoài của máy kích từ độc lập là do khi tải tăng điện áp giảm do đó điện áp kích từ cũng giảm nêm sức điện động giảm theo nên đặc tính mền hơn.
Đường đặc tính c là đặc tính của máy phát điện một chiều kích từ hỗn hợp, đặc tính ngoài của máy phát kích từ hỗn hợp tương đối cứng vì trong máy có cuận kích từ nối tiếp cho nên khi dòng tải tăng lên thì dòng kích từ cũng tăng lên do đó điện áp gần như không thay đổi. Đây là ưu điểm đặc biệt của máy phát điện một chiều kích từ hỗn hợp, máy có thể tự ổn định điện áp mà không cần bộ tự động điều chỉnh điện áp.
- Đặc tính điều chỉnh;
Đặc tính điều chỉnh là mối quan hệ giữa dòng điện kích từ và dòng điện tải khi tốc độ quay máy lai không đổi và điện áp U giữ bằng hằng số: .Ikt = f(Iư)! n = const, U = const. Đặc tính điều chỉnh của máy phát một chiều được mô tả trên hình 2.13. Khi dòng điện tải tăng lên thì điện áp giảm đi do đó để duy trì điện áp không đổi thì cần thiết phải tăng dòng điện kích từ theo công thức: U = Eư - IưRư.

Hình 2.13.


§2.4; Ac qui tàu thủy.
2.4.1; Ac qui axí:
2.4.1.1, Cấu tạo:
Cấu tạo của acqui axit gồm một bình làm bằng vật liệu chống axit như nhựa ebonit, bên trong đặt xen kẻ các bản cực dương và âm. Mỗi bản cực dương được xen kẻ giữa hai bản cực âm, như vậy số bản cực âm bao giờ cũng nhiều hơn số bản cực dương một bản.
Các bản cực có kết cấu dạng lưới chì có pha thêm 6 - 8% angtimon để tăng độ bền cơ học. Các bản cực dương được làm bằng đioxit chì PbO2 và được nối với nhau tạo thành một tổ bản cực dương. Các bản cực âm được làm bằng chì Pb và được nối với nhau tạo thành một tổ bản cực âm. Để giảm kích thước và điện trở trong của acqui thì khoảng cách các bản cực phải nhỏ. Để tránh ngắn mạch thì giữa hai bản cực có đặt tấm ngăn lưới bằng nhựa ebonit.
Dung dịch điện phân của acqui axít là dung dịch axit sunfurich H2SO4. Tùy điều kiện công tác mà nồng độ dung dịch khác nhau. Nồng độ dung dịch cao thì kích thước và trọng lượng acqui nhỏ, điện trở trong acqui nhỏ. Tuy nhiên nồng độ dung dịch cao sẽ sinh ra hiện tượng sun phát hóa bản cực làm giảm tuổi thọ của acqui.
Trọng lượng riêng của dung dịch điện phân của acqui đặt tĩnh là 1,20g/cm2, acqui di động là 1,28g/cm2.
2.4.1.2, Nguyên lý làm việc:
Sức điện động của acqui khi nạp no là 2,1 - 2,2 V. Để được 6 hay 12 V ta phải nối 3 hoặc 6 bình thành tổ acqui.
Khi acqui phóng điện, thì phản ứng hóa học xảy ra như sau:
PbO2 + 2H2SO4 + Pb => 2PbSO4 + 2H2O (2-6)
Nồng độ dung dịch giảm, điện trở trong tăng, điện áp trên các bản cực của acqui giảm, dòng phóng càng lớn thì điện áp giảm càng nhanh. Khi điện áp chỉ còn 1,8V thì phải dừng lại, nếu không thì sun phát chì tạo ra trên thành cực quá dày, acqui sẽ bị hỏng và không nạp lại được nữa.
Khi nạp điện cho acqui, quá trình xảy ra ngược lại:
2PbSO4 + 2H2O => PbO2 + 2H2SO4 + Pb (2-7)
Nồng độ dung dịch tăng, điện áp trên các bản cực tăng, điện trở trong tăng.
Hiện tượng tự phóng điện: mặc dù không cho acqui phóng điện nhưng dung lượng cứ giảm dần, khoảng 1-2% dung lượng định mức trong một ngày đêm. Nguyên nhân là do trong dung dịch điện phân và các bản cực có lẫn nhiều tạp chất
Hiện tượng sun phát hóa: các bản cực bị bao phủ bởi một lớp tinh thể sun phát chì màu trắng. Lớp tinh thể này không dẫn điện và ngăn cách các bản cực và dung dịch làm cho điện trở trong rất lớn. Khi phóng, điện áp giảm rất nhanh và hầu như không sử dụng được.
2.4.1.3, Các thông số cơ bản:
- Điện áp: được đo bằng V, acqui thường được chế tạo có điện áp 6V, 12V. Muốn có điện áp cao hơn ta phải ghép nối tiếp nhiều bình.
- Dung lượng: được đo bằng Ah (ampe giờ), ví dụ một acqui 50Ah nếu phóng liên tục với dòng 5A thì sử dụng được trong 10 giờ.
2.4.2; Ac qui kiềm:
2.4.2.1, Cấu tạo:
Acqui kiềm có cấu tạo tương tự acqui axít và có hai loại phụ thuộc vào chất tác dụng ở bản cực âm. Các bản cực âm là Ni-Fe với loại acqui sắt kền và là Ni-Cd với loại acqui cadmi kền. Các bản cực dương là hydroxit kiềm Ni(OH)3. Dung dịch điện phân trong acqui kiềm là dung dịch hydro kali KOH. Sức điện động của acqui kiềm ít phụ thuộc vào nồng độ của dung dịch điện phân, và khoảng 1,25V sau khi nạp no.
2.4.2.2, Nguyên lý làm việc:
Phản ứng hóa học khi phóng và nạp acqui kiềm như sau:
Với acqui sắt kền:
2Ni(OH)3 + KOH + Fe Ơ 2Ni(OH)2 + KOH + Fe(OH)2 (2-Cool
Với acqui Cadmi kền:
2Ni(OH)3 + KOH + Cd Ơ 2Ni(OH)2 + KOH + Cd(OH)2 (2-9)
Nồng độ dung dịch điện phân hầu như không thay đổi trong quá trình phóng nạp acqui.
Do đó chỉ cần ít dung dịch điện phân cho nên acqui kiềm có trọng lượng kích thước nhỏ hơn acqui axit. Điện trở trong của acqui kiềm lớn cho nên sụt áp trên acqui lớn.
So sánh acqui kiềm với acqui axit
- Điện áp acqui axit lớn hơn, hiệu suất cao hơn, giá thành trên đơn vị công suất thấp, dung lượng ít phụ thuộc nhiệt độ.
- Acqui kiềm có độ bên cơ học cao hơn, tuổi thọ dài hơn, và quá trình tự phóng ít hơn.
- Nội trở acqui kiềm lớn hơn acqui axit nên chịu ngắn mạch tốt hơn.
- Acqui kiềm có thời gian phóng dài hơn acqui axit.
2.4.3; Vận hành acqui:
- Khi nạp ac qui cần đổ đầy dung dịch điện phân ngập trên bản cực 10 - 15 cm. Nhiệt độ nhỏ hơn 30OC. Khi nạp nhiệt độ lớn hơn 45OC thì phải ngừng nạp đến khi nảo nhiệt độ giảm xuống dưới 30OC lại tiếp tục nạp.
- Đổ dung dịch mới vào ac qui phải sau thời gian từ 4 – 12 giờ mới được nạp.
- Để nạp ác qui chúng ta dùng nguồn điện một chiều ; nguồn một chiều có thể nhận trực tiếp từ máy phát điện một chiều hoặc được chỉnh lưu từ nguồn điện xoay chiều.
- Phương pháp nạp ác qui : có hai phương pháp nạp ac qui là phương pháp nạp dòng không đổi và phương pháp nạp điện áp không đổi.
+ Phương pháp nạp dòng không đổi thường dùng để nạp lần đầu cho ac qui hoặc ác qui bị sun phát hoá; thông thường người ta nạp theo hai cấp dòng đó là : Nạp cấp 1 là nạp ứng với dòng không đổi bằng 0,1Q (dòng định mức) với thời gian nạp từ 8 - 9 giờ, khi dung lượng đạt khỏang 90% dung lượng định mức. Nạp cấp 2 là nạp ứng với dòng không đổi bằng 0,05Q ( ½ dòng định mức) với thời gian nạp từ 2 - 4 giờ cho đến khi dung lượng đạt 100% dung lượng định mức.
Đối với ac qui kiềm có thể nạp với dòng không đổi bằng 0,1Q (dòng định mức) ngay từ đầu đến khi ác qui đủ dung lượng.
Ưu điểm của phương pháp nạp dòng không đổi:
* Đấu nối tiếp được nhiều ac qui có cùng dung lượng.
* Có thể điều chỉnh điện áp nạp để ac qui no hoàn toàn.
Nhược điểm của phương pháp nạp dòng không đổi:
* Thời gian nạp lâu và ta phải điều chỉnh điện áp nạp liên tục để duy trì dòng nạp .
+ Phương pháp nạp điện áp không đổi thường dùng để nạp lại cho ac qui; điện áp nạp trên một phần tử ác qui là 2.35v ( với ác qui axít) và 2v ( với ác qui kiềm).
Ưu điểm của phương pháp nạp điện áp không đổi: Thời gian nạp nhanh, có thể nạp cho nhiều ác qui có dung lượng khác nhau ( vì đấu song song).
Nhược điểm của phương pháp nạp điện áp không đổi: Ác qui nạp không được no hoàn toàn, không sử dụng cho AQ nạp lần đầu và AQ bị sun-fát hoá.
Dấu hiệu của nạp no là có hiện tượng thoát khí mạnh và điện áp không đổi trong 2 giờ.
2.4.4; Bảo dưởng acqui:
Trên tầu ác quy dùng cho ánh sáng sự cố , dùng để khởi động Điezen công suất nhỏ, phục vụ cho việc khống chế điều khiển. Trong buồng ác quy phải có thông gió, đặc biệt vào mùa hè. Ắc quy phải được cố định chống rung và có giá đỡ. Bề mặt ác quy phải luôn sạch sẽ để chống dòng dò và sự đánh lửa giữa các cực với nhau. Vận chuyển ác quy phải an toàn về người và hoá chất, các đầu nối dây phải dùng đầu bọp. Tuyệt đối không gây tia lửa điện trong buồng ác quy (không hút thuốc, đèn phải có chụp) , trong phòng ác quy phải sạch sẽ . Dung dịch luôn ngập các bản cực (khô nước dễ bị sunfát hoá và cong vênh bản cực ), mỗi nắp đậy phải có lỗ thông hơi. Súc xạc ác quy phải theo đúng chu trình.
Khi pha dung dịch, phải pha bằng thiết bị bằng sứ hay thuỷ tinh, không được pha bằng thiết bị kim loại. Trong quá trình pha phải chú ý: đổ axít từ từ vào nước cất ( ngược lại có thể nổ và bị bỏng ). Trong quá trình sử dụng ác quy không để ác quy phóng hết, nếu tầu có hai nhánh ác quy phải thay nhau để nạp (ngày đồi một lần). Cấm nạp chung và cất giữ chung ắc quy a-xít và ắc quy kiềm.
Chỉ sử dụng ác quy khi nồng độ dung dịch đảm bảo (ac qui kiềm nồng độ: 1,19 - 1,21% ; ac qui axít nồng độ: 25-30%). Để bảo quản, bảo dưỡng ac qui tốt cần có các phụ tùng hoàn hảo: nồng độ kế, thiết bị đo dung lượng ac qui (dung lượng kế), găng cao su, nhiệt kế và các bình dung dịch ( thời hạn sử dụng ít nhất là 3 năm).
Phải đảm bảo dung dịch ngập trên bản cực 5 - 15 mm, những chỗ gỉ tại ac qui chỉ được dùng vải tẩm dầu diezen ( DO ) để tẩy, các muối đọng và bụi dùng giẻ sạch để lau.
Phải nạp điện cho ác qui khi điện áp giảm (ac qui kiềm: dưới 1V/1 phần tử; ac qui axít dưới 2 V / 1 phần tử). Trong quá trình nạp cần quan sát điện áp nạp và dòng nạp, kiểm tra lỗ thông hơi, kiểm tra mức dung dịch, sau một thời gian cần kiểm tra nồng độ dung dịch, kiểm tra nhiệt độ dung dịch ( quá 45OC phải ngừng nạp), kiểm tra quá trình thông gió. Luôn kiểm tra độ tin cậy của các đầu nôi cực các thanh nối và các đầu kẹp. Dấu hiệu của ac qui nạp đủ là điện áp và nồng độ dung dịch điện phân không thay đổi trong thời gian 2 giờ cũng như hiện tượng khí sôi bay hơi lên.
Thực tế một số tầu người ta đặt chế độ nạp dài hạn hay thường xuyên ( floating charge ) 26.4v / 12 phần tử ( 2.2 v/ 1phần tử). Chế độ nạp khẩn cấp ( Equalizing charge) 28.8 v/ 12 phần tử (2.4 v/ 1 phần tử) trong vòng 2 giờ.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
duyduy_1368



Tổng số bài gửi : 12
Join date : 15/11/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: post thử thế nào   Wed Nov 24, 2010 5:06 pm

CHƯƠNG 5. LƯỚI ĐIỆN TÀU THỦY
§5.1; Cáp điện và dây dẫn
5.1.1;Khái quát chung về lưới điện tàu thủy.
Đặc điểm của hệ thống điện trên tàu thủy là một hệ thốnglàm việc độc lập bao gồm cả hệ thống nguồn, hệ thống phân phối và hệ thống tải trong một không gian tương đối nhỏ. Tải của hệ thống tương đối ổn định trong mỗi chế độ công tác, các chế độ công tác được xác định tương đối rõ ràng. Để đảm bảo tối ưu hiệu suất của trạm phát điện thông thường người ta lựa chọn trạm phát có nhiều máy phát công tác song song với nhau. Tùy theo công suất của trạm phát điện mà ở mỗi chế độ có một số lượng nhất định các máy phát làm việc. Vì vậy một đặc điểm cơ bản của lưới điện tàu thủy là công suất của máy phát gần bằng với công suất của lưới điện hay còn gọi là “lưới mềm” cho nên bất kỳ sự dao động của tải hay máy phát đều ảnh hưởng đến lưới điện. Do đó trong quá trình tính tóan thiết kế hệ thống và lựa chọn thiết bị phải luôn luôn quan tâm đến đặc điểm này của lưới điện tàu thủy.
Trong hệ thống điện dưới tàu thuỷ người ta chia ra làm 2 loại lưới điện :
- Lưới điện cho mạng động lực.
- Lưới điện cho mạng chiếu sáng, sinh hoạt, kiểm tra, báo cháy…
Hệ thống năng lượng phải đáp ứng được những yêu cầu về độ tin cậy, cung cấp năng lượng liên tục, cơ động thuận tiện và dễ dàng cho người sử dụng và có tính kinh tế cao.
Mạch động lực dùng lưới 3 pha 3 dây cung cấp cho các bảng phân điện phụ, các tải động lực, và các tải ánh sáng … nguời ta cố gắng phân đều tải cho ba pha..
5.1.2; Cáp điện tàu thủy.
Cáp điện hay còn gọi là dây dẫn có chức năng truyền dẫn điện năng và truyền dẫn tín hiệu điện. Cáp điện trên tàu thủy phải có khả năng chịu được sự thay đổi lớn về môi trường làm việc của nó như: nhiệt độ, độ ẩm, rung lắc, hơi muối….và phải có độ bền cơ học cao.
- Cấu trúc của cáp điện:

Hình 5.1: Cấu trúc cơ bản của cáp điện.
+ Lõi cáp: được chế tạo bằng đồng hoặc nhôm và có dạng tròn hoặc định hình trong vỏ bọc cáp. Tùy theo từng loại cáp mà lõi cáp có dạng một lõi hay nhiều lõi.
+ Lớp cách điện của cáp: có độ dày phù hợp với cấp cách điện của cáp. Vật liệu cách điện thường là hợp chất dẻo hữu cơ. Cao su butyl có khả năng chịu nhiệt, chống ẩm, đồng thời có khả năng co giản nên thường được sử dụng làm vật liệu cách điện. Với loại cáp nhiều lõi thì các lõi dây có màu sắc khác nhau hoặc có in số trên mỗi lõi.
+ Vỏ bọc ngoài cáp: được làm bằng chất liệu chịu nhiệt, chịu dầu, hóa chất và không bắt lửa và có độ bền cơ học cao.
+ Lưới bảo vệ: được làm bằng lưới thép mạ kẽm. Lớp lưới bảo vệ này giúp tăng độ bền cơ học cho cáp và nhằm mục đích chống chuột .
+ Ngoài ra tùy theo từng loại cáp mà còn có thể có thêm lớp bọc chống nhiễu nhằm đảm bảo truyền tải tín hiệu chính xác không bị ảnh hưởng bởi nhiễu.
- Các thông số định mức:
Cáp điện tàu thủy thường có các thông số theo các ký hiệu sau:
+ Ký hiệu số lõi trong dây cáp điện:
T; cáp 3 lõi
D; cáp 2 lõi
M; cáp nhiều lõi
+ Ký hiệu vật liệu lớp bọc ngòai: P ; nhựa, C kim lọai…
+ Ký hiệu vật liệu lớp bọc lõi cáp:
+ Ký hiệu diện tích tiết diện của lõi : mm2.
+ Ký hiệu điện áp thử tối đa : kv.
+ Ký hiệu nhiệt độ làm việc: OC.
+ Ký hiệu nhiệt độ làm việc: OC.
5.1.3; Các phụ kiện đấu nối cáp.
5.1.3.1; Đầu cốt.
Đầu cốt thường được làm bằng đồng hoặc hợp kim của đồng và đầu cốt được kẹp chặc vào lõi cáp nhờ dụng cụ bấm đầu cốt. Đầu cốt được bắt chặc vào các đầu nối dây bằng bulong.

Hình 5. 2:
5.1.3.2; Đầu túc luồng cáp: PG
Cáp điện phải được cách điện và bảo vệ cơ khí, kín nước. Chính vì vậy khi đi cáp điện qua các vách và vào các hộp đấu dây và vào các thiết bị như động cơ, tủ điện…thì phải đảm bảo các điều kiện trên. Nên khi đi dây qua những nơi như vậy thì ta sử dụng các đầu túc để luồng cáp.

Hình 5.3.

§5.2; Thiết bị phân phối, cấp nguồn
5.2.1; Cầu dao:
Cầu dao là khí cụ điện để đóng cắt mạch điện bằng tay ở mạch hoặc lưới điện áp thấp, cầu dao có cấu tạo đơn giản, giá thành thấp, tuổi thọ cao, được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp và dân dụng.
5.2.1.1; Cấu tạo và nguyên lý họat động:
(1)- Dao tiếp điện chính chế tạo bằng đồng hoặc hợp kim đồng, phần trên gắn với tay nắm cách điện bằng gỗ, sứ hoặc nhựa tổng hợp. (2)-Tiếp điểm tĩnh cấu tạo cũng từ kim loại đồng hoặc hợp kim, dưới dạng như một bộ kẹp để tăng diện tích tiếp súc của dao với kẹp. (3)-Dao tiếp điện phụ gắn với lò xo, khi đóng mach dao phụ đóng vào trước, dao chính đóng vào sau, nhưng khi ngắt mạch dao chính sẽ bật ra trước, dao phụ sẽ bật ra sau với tốc độ rất nhanh, nhằm tránh hiện tượng tia lửa điện lớn phá hủy mặt dao tiếp điện. (4)-Lò xo để ngắt nhanh dao tiếp điểm phụ khi kéo tay đóng mở ra vị trí xa, do đó tia lửa nếu xuất hiện sẽ bị kéo dài và dập tắt nhanh trong môi trường khí. (5) Đế cầu dao: Tiếp điểm tĩnh và các trụ nối dây cáp điện vào và ra được gắn trên một tấm đế cách điện bằng bakelit, nhựa hay sứ cách điện.


Hình 5.4
5.2.1.2; Các thông số:
- Dòng điện định mức: Idm là dòng điện đi qua cầu dao trong thời gian lâu dài mà cầu dao vẫn họat động bình thường.
- Điện áp định mức: Udm là điện áp chịu đựng được lâu dài của các vật liệu cách điện chế tạo cầu dao.
5.2.2; Aptomat:
Aptomat là khí cụ điện được sử dụng để tự động cắt mạch điện, bảo vệ quá tải, ngắn mạch, thấp áp, … cho thiết bị điện.
5.2.2.1; Cấu tạo:
Cấu tạo của aptomat có các bộ phận chính sau:
- Tiếp điểm: aptomat thường có 2 đến 3 loại tiếp điểm, tiếp điểm chính, tiếp điểm phụ và hồ quang. Với các aptomat nhỏ thì không có tiếp điểm phụ. Tiếp điểm thường được làm bằng vật liệu dẫn điện tốt nhưng chịu được nhiệt độ do hồ quang sinh ra, thường làm hợp kim Ag-W hoặc Cu-W. Khi đóng mạch thì tiếp điểm hồ quang đóng trước, tiếp theo là tiếp điểm phụ, cuối cùng là tiếp điểm chính. Khi cắt mạch thì ngược lại, tiếp điểm chính mở trước, tiếp theo là tiếp điểm phụ, cuối cùng là tiếp điểm hồ quang. Như vậy hồ quang chỉ cháy trên tiếp điểm hồ quang, do đó bảo vệ được tiếp điểm chính. Tiếp điểm phụ được sử dụng để tránh hồ quang cháy lan sang làm hỏng tiếp điểm chính.
- Hộp dập hồ quang: thường sử dụng những tấm thép chia hộp thành nhiều ngăn cắt hồ quang thành nhiều đoạn ngắn để dập tắt.
5.2.2.2; Nguyên lý họat động:
Khi ta đóng aptomat thì điện được đưa lên lưới sử dụng và khi xảy ra hiện tượng ngắn mạch thì aptommat se nhảy để ngắt điện khỏi lưới và bảo vệ thiết bị. Tùy theo giá trì dòng ngắn mạch là lớn hay nhỏ mà thời gian tác động của aptomat là nhanh hay chậm(xem hình 6).
Hình 5.5.

Hình 5.6.
5.2.2.3; Các thông số kỹ thuật cơ bản:
- Điện áp định mức: là giá trị diện áp làm việc dài hạn của thiết bị điện được aptomat đóng ngắt.
- Dòng điện định mức Iđm: là dòng điện làm việc lâu dài của aptomat, thường dòng định mức của aptomat bằng 1.2 – 1.5 lần dòng định mức của thiết bị được bảo vệ.
- Dòng điện tác động Itđ : là dòng aptomat tác động, tuỳ thuộc loại phụ tải mà tính chọn I tác động khác nhau. Với động cơ điện không đồng bộ 3 pha rotor lồng sóc thì thường Itđ = (1.2 – 1.5) It, với It là dòng định mức của thiết bị cần bảo vệ.
- Đặc tính A-s của aptomat (Hình 8-14d): để aptomat bảo vệ được thiết bị thì đặc tính A-s của aptomat phải thấp hơn đặc tính A-s của thiết bị.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
duyduy_1368



Tổng số bài gửi : 12
Join date : 15/11/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: post thử thế nào   Wed Nov 24, 2010 5:09 pm


CHƯƠNG 6. ĐỘNG CƠ VÀ THIẾT BỊ ĐIỀU KHIỂN ĐỘNG CƠ

§6.1; Động cơ điện một chiều
6.1.1;Cấu tạo, nguyên lý họat động.
6.1.1.1,Cấu tạo, phân lọai:
- Cấu tạo:
Do tính chất thuận nghịch của máy điện một chiều mà mỗi máy điện có thể vừa làm máy phát vừa làm động cơ do đó cấu tạo của động cơ một chiều cũng là cấu tạo của máy phát một chiều đã trình bày trong mục 2.3.
- Phân lọai:
Dựa theo phương pháp kích từ người ta chia động cơ 1 chiều thành các lọai sau:

+ Động cơ kích từ độc lập: là động cơ mà nguồn kích từ và nguồn phần ứng là hai nguồn riêng biệt do đó khi tải thay đổi thì không ảnh hưởng đến từ thông. Sơ đồ nguyên lý động cơ kích từ độc lập được mô tả trênh hình 6.1.
+ Động cơ kích từ song song: là động cơ mà nguồn kích từ được nối song song với phần ứng do đó khi tải thay đổi thì hầu như không ảnh hưởng đến từ thông. Sơ đồ nguyên lý động cơ kích từ song song được mô tả trênh hình 6.2.
+ Động cơ kích từ nối tiếp: là động cơ mà cuộn dây kích từ được mắc nối tiếp với phần ứng do đó khi tải thay đổi thì từ thông cũng thay đổi theo. Sơ đồ nguyên lý động cơ kích từ nối tiếp được mô tả trênh hình 6.3.


+ Động cơ kích từ hỗn hợp: là động cơ mà có cả cuộn dây kích từ song song và cuận dây kích từ nối tiếp do đó khi tải thay đổi thì từ thông cũng thay đổi theo. Sơ đồ nguyên lý động cơ kích từ hỗn hợp được mô tả trênh hình 6.4.
6.1.1.2, Nguyên lý họat động:
Để đơn giản chúng ta có thể xét nguyên lý hoạt động của động cơ một chiều thông qua một máy điện với chỉ một bin dây như sau:

Hình 6.5

Giả sử có một khung dây ABCD mang dòng điện được đặt trong từ trường có cảm ứng từ B. Khi đó các thanh dẫn AB và CD của khung dây sẽ chịu một lực tác động theo định luật lực điện từ. Chiều của lực điện từ được xác định theo qui tắc bàn tay trái, tại vị trí trong hình vẽ chiều của lực điện từ trong thanh các thanh dẫn AB và CD được xách định như trong hình vẽ; đó là 2 lực bằng nhau và ngược chiều nhau. Hai lực này tạo thành cặp ngẫu lực sinh ra mô men làm khung quay đi. Khi khung quay được 180O thì do chổi than và cổ góp mà chiều dòng điện trong các khung dây cũng thay đổi do vậy mặc dù vị trí thanh dẫn thay đổi nhưng chiều của lực sẽ không thay đổi vì vậy mô men cũng không đổi chiều và khung sẽ quay theo một chiều. Ở chế độ động cơ chổi than và cổ góp điện đóng vai trò như bộ nghịch lưu biến dòng điện một chiều từ nguồn thành dòng xoay chiều đưa vào khung dây.
6.1.2, Mô men quay của động cơ một chiều.
Công suất điện từ của máy điện một chiều đựơc tính theo biểu thức:
P = EI
Mô men quay của máy điện một chiều đựơc tính theo biểu thức:

Thay vào ta có:

Trong đó :
+ là vận tốc góc của rotor,
+ Ce được gọi là hệ số cấu trúc máy: ..
+ Φ là từ thông của máy.
+ I là dòng điện phần ứng.
6.1.3;Đặc tính cơ.
6.1.3.1, Đặc tính cơ của động cơ kích từ độc lập và song song:
Dựa theo sơ đồ nguyên lý động cơ trên hình 6.1, 6.2 ta có thể viết phương trình cân bằng điện áp của mạch phản ứng như sau:
(6-1)
Trong đó:
: điện áp phần ứng, V
Ru : Điện trở của mạch phần ứng 
Rf : Điện trở phụ trong mạch phần ứng 
Iu : Dòng điện mạch phần ứng, A
Sức điện động Eu của phần ứng động cơ được xác định theo biểu thức
(6-2)
Thay (6-2) vào (6-1) và biến đổi ta có:
(6-3)
Đây là phương trình đặc tính cơ điện của động cơ điện một chiều kích từ độc lập.
Mặt khác ta có:

Thay vào (6-3) ta được:
(6-4)
Đây là chính là phương trình đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích từ độc lập.
Viết ở hệ đơn vị tương đối ta được:
Vì như đã giả thuyết từ thông  = const nên các phương trình đặc tính cơ điện (6-3) và phương trình đặc tính cơ (6-4) là tuyến tính. Đồ thị chúng được biểu diễn trên hình là những đường thẳng trên hình 2-2; (a, đặc tính cơ điện; b, đặc tính cơ).
Theo các đồ thị trên thì khi Iu = 0 hoặc M = 0 ta có:
(6-5)
0 được gọi là tốc độ không tải lý tưởng của động cơ.

Hình 6.6
Khi  = 0 ta có:
(6-6)
(6-7)
Inm, Mnm được gọi là dòng điện ngắn mạch và moment ngắn mạch.
6.1.3.2, Đặc tính cơ của động cơ kích từ nối tiếp:
Ta cũng có thể lập phương trình đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích như sau:
Từ các phương trình:


Với giả thiết rằng động cơ làm việc trong đoạn mạch từ tuyến tính khi đó ta có:
nên thay vào các phương trình đặc tính trên ta có:
(6-9)
Đây là phương trình của đường hypepol.
Điều đặc biệt của phương trình trên là khi M = 0 thì có nghĩa là đặc tính cơ của động cơ điện không cắt trục tung, dạng của đặc tính cơ như trên hình 6.7.


Hình 6.7
6.1.3.3, Đặc tính cơ của động cơ kích từ hỗn hợp:
Động cơ một chiều kích từ hỗn hợp là động cơ điện có cả cuận kích từ song song và nối tiếp do đó nó sẽ mang cả đặc tính của loại động cơ kích từ song song và kích từ nối tiếp. Từ thông của động cơ điện do 2 cuận kích từ sinh ra là:
vì từ thông do cuận nối tiếp sinh ra phụ thuộc vào dòng phần ứng nên từ thông tổng cũng phụ thuộc vào dòng phần ứng (tức là phụ thuộc vào tải). Đặc tính cơ của động cơ kích từ hỗn hợp là tổng hợp của đặc tính cơ của động cơ kích từ song song và động cơ kích từ nối tiếp, vì có cuận song song nên khi không tải vẫn có từ thông do quận kích từ song song tạo nên do đó đặc tính cơ cũng cắt trục tung tại điểm o .
Dạng của đặc tính cơ được trình bày trên hình 6.8. Hình 6.8
6.1.4;Khởi động động cơ một chiều.
Từ phương trình đặc tính cơ điên, ta thấy khi (tại thời điểm mở máy) thì dòng điện khởi động là: (6-10)
Điện trở Ru thường có giá trị khá nhỏ, nên giá trị dòng điện khởi động rất lớn, có thể tăng lên đến 20 – 25 lần đòng điện định mức. Điều đó sẽ rất nguy hiểm cho động cơ , các thiết bị điều khiển và lưới điện đặc biệt là những hệ thống cần khởi động, hãm máy nhiều lần trong quá trình hoạt động vì vậy cần thiết phải sử dụng các phương pháp khởi động để giảm dòng điện khởi động.
Trong khi giảm dòng khởi động thì moment khởi động cũng sẽ giảm do đó yêu cầu đặt ra là khi khởi động là:
- Dòng điện khởi động phải đủ nhỏ (Ikđ = 2,5 – 3 Iđm).
- Moment khởi động phải đủ lớn để đảm bảo khởi động động cơ điện –lớn hơn moment cản.
- Thời gian khởi động càng nhỏ càng tốt.
Từ phương trình dòng điện khởi động để giảm dòng điện ta có 2 phương pháp sau:
- Phương pháp giảm điện áp nguồn đặt vào phần ứng động cơ điện, phương pháp này có thể thực hiện bằng hệ thống máy phát - động cơ, các bộ chỉnh lưu có điều khiển dùng SCR hoặc các bộ băm điện áp 1 chiều.
- Phương pháp đưa thêm điện trở phụ Rf vào mạch phần ứng.
6.1.5; Điều chỉnh tốc độ.
6.1.5.1,Phương pháp thay đổi điện trở mạch phần ứng:
- Nguyên tắc điều khiển:
Điều chỉnh tốc độ động cơ điện bằng cách đưa điện trở vào mạch phần ứng có thể thực hiện cho tất cả các loại động cơ điện một chiều. Nguyên lý điều khiển cũng giống như khi khởi động cơ bằng cách đưa điện trở vào mạch phần ứng nhưng điện trở điều chỉnh tốc độ là loại điện trở làm việc ở chế độ dài hạn. Sơ đồ nguyên lý và đặc tính cơ của quá trình thay đổi tốc độ động cơ điện được mô tả trên hình 6.9 a,b với động cơ một chiều kích từ song song và hình 6.10 (a,b) với động cơ một chiều kích từ hỗn hợp.
Nguyên lý điều chỉnh tốc độ được giải thích như sau;
Giả sử động cơ điện đang làm việc tại điểm A trên đặc tính cơ có Rf = 0 với tốc độc ω1 khi đưa thêm điện trở vào phần ứng thì động cơ chuyển sang làm việc ở đặc tính cơ có Rf1 nhưng ngay tại thời điểm đầu tốc độ động cơ điện không thay đổi và dòng điện thì đã giảm nên mô men của động cơ điện nhỏ hơn mô men cản do đó tốc độ động cơ giảm dần và xác lập tại điểm ổn định mới với tốc độc ω2.
- Đặc điểm của phương pháp:
Phương pháp điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi điện trở phần ứng có các đặc điểm sau:
- Chỉ điều chỉnh tốc độ theo chiều giảm
- Độ cứng của đặc tính cơ giảm khi đưa thêm điện trở phụ.
- Dải điều chỉnh hẹp
Ứng dụng cho những điều chỉnh không đòi hỏi cao về sự chính xác khi điều chỉnh tốc độ.


Hình 6.9 a,b.


Hình 6.10,a,b.
6.1.5.2,Phương pháp thay đổi điện áp phần ứng động cơ 1 chiều:
- Nguyên tắc điều khiển:
Để điều chỉnh điện áp nguồn cấp cho động cơ điện một chiều chúng ta sử dụng các bộ biến đổi điện áp hoặc sử dụng hệ máy phát động cơ F – D. Sơ đồ khối và sơ đồ thay thế hệ thống được mô tả trên hình 6.11 a,b.
Trên sơ đồ thay thế ta có sức điện động Eb là do bộ biến đổi sinh ra và nó phụ thuộc vào điện áp điều khiển Udk , Rb là điện trở trong của bộ nguồn . Từ sơ đồ thay thế ta có thể viết phương trình đặc tính của hệ như sau:
(6-11)
(6-12)
(6-13)

Hình 6.11
ta có độ cứng đặc tính cơ là: (6-14)
Dạng đặc tính cơ là những đường thẳng song song nhau và được biểu diễn trên hình 6.12.
- Đặc điểm của phương pháp:
Phương pháp điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi điện áp phần ứng có các đặc điểm sau:
- Chỉ điều chỉnh tốc độ theo chiều giảm
- Độ cứng của đặc tính cơ hầu như không đổi so với đặc tính cơ tự nhiên.
- Dải điều chỉnh rộng.
- Độ láng điều chỉnh tốt hơn.
Ứng dụng cho những điều chỉnh có đòi hỏi cao về sự chính xác khi điều chỉnh tốc độ, tốt nhất cho các tải dạng thế năng.


Hình 6.12
6.1.5.3,Phương pháp thay đổi từ thông động cơ 1 chiều:
- Nguyên tắc điều khiển:
Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi từ thông động cơ một chiều chỉ điều chỉnh theo chiều giảm từ thông vì mạch từ sẽ bị bão hòa nếu như chúng tăng từ thông. Sơ đồ nguyên lý cuả hệ thống được mô tả trên hình 6-13a.
Khi điều chỉnh từ thông ta được họ đặc tính cơ điện và đặc tính cơ trên hình 6.13b.
Nhìn vào phương trình mô men ( và phương trình sức điện động ( ) ta thấy khi điều chỉnh từ thông thì mômen và sức điện động cũng thay đổi. Trong phạm vi từ thông thay đổi đủ nhỏ thì mô men sẽ giảm như với tải có đặc tính giảm theo tốc độ thì tốc độ động cơ điện sẽ tăng. Tuy nhiên nếu từ thông giảm nhiều và tải có đặc tính là tăng hoặc không đổi theo tốc độ thì khi giảm từ thông tốc độ động cơ sẽ giảm.

Hình 6.13
Mối quan hệ giữa tốc độ và từ thông dựa vào phương trình đặc tính cơ ta thấy đó là một hàm đa trị và có cực đại, mối quan hệ này được mô tả trên hình 6.14 .

Hình 6.14
Nhìn vào đồ thị trên chúng ta nhận thấy rằng tốc độ sẽ tăng trong phạm vi giảm đến giá trị cực trị sau đó nếu giảm nữa thì tốc độ sẽ giảm theo. Đồng thời khi mô men cản giảm thì tốc độ cực đại tăng lên (trên hình vẽ Mc1 > Mc2).
- Đặc điểm của phương pháp:
- Độ cứng của đặc tính cơ của hệ giảm khi từ thông giảm ( ).
- Tốc độ không tải lý tưởng của hệ tăng ( )
- Có khả năng điều chỉnh trơn láng nhiều cấp vì chỉ điều chỉnh ở mạch kích từ công suất rất nhỏ so với mạch động lực.
- Giải điều chỉnh không rộng
Phương pháp điều chỉnh theo từ thông phù hợp nhất cho các loại tải có mô men cản tỷ lệ nghịch với tốc độ.


§6.2; Động cơ không đồng bộ 3 pha
6.2.1;Cấu tạo, phân lọai.
6.1.1.1,Phân lọai:
Theo cấu trúc của totor của động cơ không đồng bộ 3 pha người ta chia thành hai lọai như sau::
+ Động cơ dị bộ totor lồng xóc.
+ Động cơ dị bộ totor dây quấn.
6.2.1.2.,Cấu tạo:
Các máy điện không đồng bộ có cấu tạo gồm có hai phần chính là stator (phần tĩnh) và rotor ( phần động) vàcác phần phụ như quạt làm mát, nắp máy… Cấu trúc chung các bộ phận của động cơ không đồng bộ 3 pha được mô tả trên hình 6.15. Cấu trúc như sau:

Hình 6.15
- Stator (phần tĩnh): Cấu trúc stator được mô trả trên hình: 6.16
+ Lõi thép stator : Cấu tạo từ các lá thép kĩ thuật điện có độ dày 0,3 –0,5mm dạng hình vành khăn phiá bên trong xẻ rãnh để đặt các cuộn dây điện từ, các lá thép được ghép cách điện với nhau để tránh dòng fucô, và được đặt trong vỏ thép hoặc gang đúc xem hình 6.16.
+ Mạch điện: cuận dây stator là cuận dây ba pha gồm có ba cuận dây đặt lệch nhau trong không gian 120O điện: Dây quấn 3 pha là dây đồng có phủ lớp emay cách điện, chịu được nhiệt độ cao, dây dẫn được quấn thành các bin đặt trong rãnh theo các quy luật như xếp (xếp đơn, xếp kép), sóng ( sóng đơn, sóng kép và đồng tâm tạo thành mạch 3 pha đối xứng và sử dụng hết chu vi cuả mặt cắt các rãnh. Các bin dây và phần lõi thép stator phải có cách điện bởi các lớp bià phesfan, tơ sợi, mica… Các cbin dây được nối nối tiếp hoặc song song với nhau tạo thành các cặp cực (p), số cặp cực hình thành tùy thuộc yêu cầu của tốc độ rotor và số rãnh trong của stator. Cuộn day 3 pha stator thường đưa ra 3 dầu dây (nối sao) hoặc 6 đầu dây để có cách nối dây hình “sao” hay nối dây hình “tam giác”. Ở một số động cơ đặc biệt trên mỗi pha có thể có hơn 1 cuộn dây, vì vậy số đầu dây có thể đưa ra ngoài là 9 hoặc 12 đầu dây để tổ chức đổi nối tạo nhiều cấp tốc độ.
Stator của động cơ dị bộ 3 pha rotor kiểu dây quấn và roto kiểu lồng sóc đều có cùng chung một dạng cấu tạo. .
- Phần quay (rotor) gồm:
+ Lõi thép:
Lõi thép cũng là các lá thép kĩ thuật điện dập hình vành khăn, ghép cách điện và phiá vành ngoài xẻ rãnh để đặt các bin dây,phiá bên trong của lõi thép là trục xuyên qua, trục rotor động cơ chế tạo bằng thép , 2 đầu có ổ đỡ trượt hoặc ổ bi, phía ngoài của trục gắn các cánh quạt làm mát. Hình 6-16
+ Dây quấn rotor : máy điện không đồng bộ có hai lọai rotor là rotor lồng xóc và rotor dây quấn có cấu tạo khác nhau:
* Động cơ rotor dây quấn là lọai động cơ mà mạch điện rotor là cuận dây 3 pha nối sao, 3 đầu đầu của cuận dây được đưa ra ngòai bằng 3 vành trượt bằng đồng và chổi quét. Cách cuốn rotor cũng tương tự như dây quấn của stator, số cặp cực hình thành của dây quấn rotor bằng với số cặp cực của stator. Cấu trúc rotor dây cuấn được mô trả trên hình: 6.17.

Hình 6.17.
* Động cơ rotor lồng sóc là lọai động cơ mà mạch điện rotor được chế tạo bằng các thanh đồng hoặc nhôm hai đầu được hàn với hai vành ngắn mạch ( vì vậy còn gọi là rotor ngắn mạch) trông như hình chiếc lồng. Các thanh lồng xóc được đặt trong rãnh của rotoe và cách điện với mạch từ. Cấu trúc rotor lồng xóc được mô trả trên hình: 6.18.
Giữa stator và rotor có một khe khí hẹp từ 3 –15mm. Khe hở càng lớn thì lực từ hoá càng lơn và hệ số công suất cosþ cuả động cơ sẽ giảm.

Hình 6.18.
-Vỏ máy:
Vỏ máy thường làm bằng nhôm, gang hoặc thép đúc, có chân máy để đặt trên bệ, giữa vỏ và lõi thép stator thường đặt có các khe khí rộng để thông gió hình , 2 đầu có nắp để đỡ trục quay, cánh quạt thông gió co 2 kiểu: thông gió kín (phiá trong máy) và thông gió hở (phiá bên ngoài máy). Vỏ máy có thể hở để thông gió hoặc làm kín (môi trường tầu thuỷ), trên vỏ máy có hộp nối dây điện với nguồn điện bên ngoài (xem hình 6.18 ở trên).
6.2.2; Nguyên lý họat động.
Khi cấp dòng điện I1 vào cuộn dây 3 pha thì trong lòng cuộn dây 3 pha có một từ trường quay tròn đều với tốc độ là no = 60.f/p , từ trường này quét qua các thanh dẫn của rotor (lồng sóc), hay cac cạnh của các bin dây trong rãnh rotor làm suất hiện trong chúng sức điện động cảm ứng với tần số là f. Khi rotor kín mạch thì sẽ có dòng điện rotor I2 ,dòng điện này tác động với từ trường stator làm sinh ra từ lực và Momen quay Mđt,rotor quay theo chiều giảm tốc độ quét của từ trường quay qua các thanh dẫn, tần số dòng điện trong rotor là f2. Giả sử rằng tốc độ của rotor tăng bằng tốc độ của từ trường
quay, lúc đó không có sự quét của từ trường stator lên các thanh dẫn của rotor => sức điện động trong các thanh dẫn bằng “0” => I2 = 0, do đó => mômen Mđt = 0. Nhưng do ổ đỡ có mô men ma sát Mms ≠ 0 nên tốc độ rotor giảm xuống. Khi tốc độ rotor giảm xuống thì tiếp tục lại có sự quét của từ trường quay qua thanh dẫn rotor, => lại xuất hiện momen điện từ Mđt làm rotor quay theo =>…. Cứ như thế tốc độ quay của rotor đạt được không bao giờ bằng tốc độ của từ trường quay. Dòng điện trong rotor có tần số là f2 = s.f [hz]
Tốc độ của rotor xác định như sau:
n = no (1–s)[vg/ph] hoặc w = wo(1-s) [rad/s]
s -là hệ số trượt của rotor so với từ trường quay
s = 0 - khi tốc độ rotor bằng tốc độ của từ trường no
s = 1 - khi tốc độ rotor bằng không (bắt đầu khởi động hoặc động cơ bị dừng dưới điện)
Dễ dàng nhận thấy rằng khi động cơ bắt đầu khởi động (s =1) dòng điện trong rotor có giá trị lớn nhất, khi động cơ hoạt động bình thường (s rất nhỏ) dòng điện rotor sẽ giảm xuống.
6.2.3;Đặc tính cơ.
6.2.3.1,Phương trình đặc tính cơ:
Để xây dụng đặc tính cơ của động cơ điện không đồng bộ 3 pha ta sử dụng sơ đồ thay thế động cơ điện không đồng bộ như hình 3-1:
Trong đó: x1, r1 là điện trở và điện kháng mạch stator; r’2, x’2 là điện trở và điện kháng mạch rotor qui đổi về stator; r’f là điện trở phụ mắc vào mạch rotor được qui đổi về stator (nếu động cơ rotor lồng xóc thì r’f = 0); rµ, xµ là điện trở Hình 6.19
và điện kháng đặc trưng cho mạch từ; Uf, I2 là điện áp và dòng điện pha; s là độ trượt.
Từ sơ đồ thay thế ta tìm được dòng điện rotor qui đổi về stator là:
(6-15)
Công suất điện từ chuyển từ stator sang rotor là:
(6-16)
Trong đó Mdt là mô men điện từ và nếu bỏ qua tổn hao phụ thì mô men điện từ bằng mô men cơ: Mdt = Mco = M.
(6-17)
hay: (6-18)
(6-19)
(6-20)
Thay thế I’2 từ phương trình (3.1) ta có:
(6-21)

Phương trình mô men theo độ trượt là đường cong, để vẽ đường cong ta đi tìm điểm cực trị của hàm trên như sau:
Đạo hàm hàm M theo s và cho bằng 0 ta được điểm cực trị như sau:
(6-22)
Thay thế (3.Cool vào phương trình (3.7) ta tìm được:
(6-23)
Để thuận tiện hơn người ta thường sử dụng phương trình đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ dưới dạng phương trình Closs bằng cách lập tỷ số giữa phương trình (6-21) và (6-23) và biến đổi ta được:
(6-24)
Trong đó:
Đối với các động cơ điện có công suất trung bình và lớn thì R1 rất nhỏ so với R2 do đó có thể bỏ qua a khi đó ta có:
(6-25)
Phương trình (3.11) gọi là phương trình Closs đơn giản.
6.2.3.2,Dạng đặc tính cơ
Dạng đặc tính cơ được mô tả trên hình 6.20 a, b.

Hình 6.20
6.2.4; Khởi động động cơ không đồng bộ 3 pha.
Cũng giống như động cơ một chiều khi khởi động động cơ điện không đồng bộ thì dòng điện trong động cơ điện cũng tăng lên rất nhiều làm nguy hại đến động cơ, các thiết bị điều khiển cũng như lưới điện do đó cần thiết phải sử dụng các phương pháp khởi động để đảm bảo giảm dòng điện khởi động:
- Các yêu cầu khởi động:
+ Dòng điện khởi động phải nhỏ Ikđ = (2,5 – 3) Iđm.
+ Mô men khởi động phải đủ lớn ( lớn hơn mô men cản)
+ Thời gian khởi động phải càng ngắn càng tốt.
- Các phương pháp khởi động:
+ Phương pháp khởi động trực tiếp dùng cho động cơ điện công suất nhỏ.
+ Phương pháp khởi động bằng cách tăng dần điện áp đặt vào stator.
+ Phương pháp khởi động bằng cách đưa thêm điện trở vào mạch rotor (đối với động cơ điện rotor dây quấn).
+ Phương pháp khởi động bằng cách sử dụng các bộ khởi động mềm (soft stater).
Ở đây chúng ta chỉ xem xét phương pháp khởi động động cơ không đồng bộ rotor dây quấn bằng cách đưa thêm điện trở phụ vào mạch rotor sau đây chúng ta xem xét các phương pháp xác định điện trở mắc vào mạch rotor động cơ rotor dây quấn.
6.2.5; Điều chỉnh tốc độ động cơ không đồng bộ 3 pha.
6.2.5.1 Nguyên lý điều chỉnh điện trở mạch rotor.
Điều chỉnh điện trở mạch rotor động cơ không đồng bộ chỉ thực hiện đối với động cơ rotor dây quấn.
Sơ đồ nguyên lý mạch điều chỉnh điện trở rotor động cơ điện không đồng bộ được mô tả trên hình 6.21; a, điều chỉnh điện trở rotor thông thường, b; điều chỉnh xung điện trở rotor, c, đặc tính cơ của hệ..
Khi đưa điện trở phụ vào mạch rotor thì dòng điện trong động cơ điện giảm nên mô men cũng giảm do đó tốc độ động cơ điện giảm dần và xác lập tại điểm làm việc mới trên đặc tính biến trở. Khi đưa điện trở phụ vào mạch rotor thì tốc độ không tải và mô men tới hạn không thay đổi, còn độ trượt tới hạn thay đổi theo chiều tăng dần, độ cứng của đặc tính cơ cũng giảm.


Hình 6.21
6.2.5.2 Nguyên lý điều chỉnh số cặp cực.
Để thay đổi số đôi cực chúng ta chỉ sử dụng cho động cơ không đồng bộ rotor dây quấn vì khi số cặp cực stator thay đổi thì số cặp cực của rotor cũng thay đổi cho phù hợp điều này chỉ có thể thực hiện với động cơ rotor lồng xóc vì số cặp cực của rotor lồng xóc luôn luôn phù hợp với số cặp cực của stator.
Ta có: và nên khi p thay đổi thì tốc độ động cơ điện cũng thay đổi .Có 3 phương pháp thay đổi số cặp cực là:
- Đổi nối từ tam giác sang sao kép; sơ đồ nối dây như trên hình 6.22a.
- Đổi nối từ sao sang sao kép; sơ đồ nối dây như trên hình 6.22b.
- Sử dụng các cuận dây riêng biệt có số cặp cực khác nhau.

Hình 6.22
Đặc tính cơ của hệ được mô tả trên hình 623a,b.

Hình 6.23
6.2.5.3 Nguyên lý điều chỉnh điện áp nguồn.
Như chúng ta đã biết điện áp nguồn có ảnh hưởng đến đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ ba pha, điều đó có nghĩa là khi điện áp nguồn thay đổi thì tốc độ động cơ cũng thay đổi. Nguyên lý điều chỉnh điện áp nguồn động cơ không đồng bộ được trình bày trên hình 6-24 a:
Ở đó UL là điện áp lưới qua bộ biến đổi BĐ để cấp nguồn cho động cơ , điện áp Ub được thay đổi phụ thuộc vào tín hiệu điều khiển Uđk .
Ta có:


Hình 6.24
Ta nhận thấy Sth không phụ thuộc vào điện áp nguồn do đó nó không đổi khi điện áp nguồn thay đổi. Còn mô men tới hạn tỷ lệ với bình phương điện áp nguồn do đó khi điện áp giảm thì mô men giảm rất nhiều đây là nhược điểm của phương pháp điều chỉnh tốc độ bằng thay đổi điện áp nguồn. Mặt khác với động cơ không đồng bộ thì giátrị Sth là nhỏ do đó hiệu quả điều chỉnh tốc độ không nhiều vì vậy đối với động cơ điện không đồng bộ rotor dây quấn nếu sử dụng phương pháp thay đổi điện áp nguồn thì để tăng hiệu quả điều khiển nên đưa thêm điện trở phụ vào mạch rotor (khi đó tăng thêm giá trị mô men tới hạn)
Đặc tính cơ của phương pháp thay đổi điện áp mạch stator trình bày trên hình 6-24b
6.2.5.3 Nguyên lý điều chỉnhtần số - điện áp nguồn.
Như chúng ta đã biết khi thay đổi tần số nguồn thì điện kháng của các cuận dây thay đổi do đò dòng điện sẽ thay đổi nên ảnh hưởng đến quá trình điều khiển động cơ. Vì vậy người ta đã tìm ra qui luật điều chỉnh điện áp theo tần số với tỷ lệ không đổi. Qui luật thay đổi tần số và điện áp như vậy chỉ là qui luật gần đúng nhưng cơ bản.
Đặc tính cơ của hệ được mô tả tên hình 6.25 a,b.

Hình 6.25

§6.3; Khí cụ điện điều khiển động cơ
6.3.1; Contactor.
6.3.1.1, Cấu tạo:
Công tắc tơ là một thiết bị điện dùng để đóng ngắt từ xa các mạch điện có điện áp đến 500V, dòng điện đến 600A, contactor là một khí cụ điều khiển được sử dụng rất rộng rãi trân tầu thủy. Công tắc tơ điện từ có các bộ phận chính sau:
- Hệ thống tiếp điểm gồm hệ tiếp điểm chính và hệ thống tiếp điểm phụ, các tiếp điểm có hai lọai thường đóng và thường mở, tiếp điểm thường làm bằng hợp kim đồng có khả năng chịu mài mòn và chịu nhiệt. Công tắc tơ thường có 3 đến 4 tiếp điểm chính (đóng ngắt mạch động lực) và một vài cặp tiếp điểm phụ (đóng ngắt mạch điều khiển). Để tăng độ nén giữa tiếp điểm tĩnh và tiếp điểm động, trên mỗi tiếp điểm động có bố trí một lò xo.

Hình 6.26: Sơ đồ nguyên lí cấu tạo của contactor.
1- Cuộn hút điện từ,2- Mạch từ động,3- Tiếp điểm chính,4- Tiếp điểm phu,
5- Cơ cấu lai hệ thống tiếp điểm,6- Lò xo chống dính
- Hệ thống mạch từ gồm hai phần: phần tĩnh thường có dạng chữ E, trên trụ giữa có đặt cuộn hút. Phần động thường có dạng chữ E hoặc chữ I. Phần động liên kế cơ khí với tiếp điểm động, khi phần động chuyển động, tiếp điểm động chuyển động làm thay đổi trạng thái của tiếp điểm như được minh họa ở hình 6-26.
- Cuộn dây điện từ tạo lực hút cho contactor, cuộn hút có thể là điện một chiều hoặc xoay chiều. Nếu là cotactor xoay chiều thì ngòai cuận hút chính còn có vòng đồng ngắn mạch để tạo chiều cho lực hút.
- Hệ thống dập hồ quang, hệ thống lò xo và vỏ contactor.
6.3.1.2, Nguyên lý hoạt động;
Nguyên lý hoạt động của công tắc tơ như sau: khi cuộn dây 1 không có điện, lò xo 6 kéo tiếp điểm ở trạng thái “OFF”, các tiếp điểm thường mở thì mở ra, các tiếp điểm thường đóng thì đong lại. Khi cấp điện cho cuộn dây, tấm động 2 được hút vào kéo theo các tiếp điểm, các tiếp điểm chuyển sang trạng thái “ON”, các tiếp điểm thường mở thì đóng lại, các tiếp điểm thường đóng thì mở ra.
6.3.1.3, Các thông số cơ bản;
- Điện áp định mức Uđm: điện áp làm việc lâu dài của mạch điện mà cuộn hút của nó không bị cháy, điện áp định mức có thể là 110V, 220V, 440V một chiều và 127V, 220V,380V, 500V xoay chiều.
- Dòng điện định mức Iđm: dòng điện dài hạn qua tiếp điểm mà không làm hỏng tiếp điểm.
- Tuổi thọ cơ khí: được tính bằng số lần đóng ngắt, thường là 10– 20 triệu lần đóng ngắt không điện, và 3 triệu lần đóng ngắt có dòng định mức.
- Điện áp cách điện: điện áp thử cách điện.
- Tính ổn định lực điện động: tiếp điểm chính cho phép một dòng điện lớn nhất đi qua mà lực điện không làm thay đổi trạng thái của các tiếp điểm dù trong một thời gian ngắn. Thường qui định lấy dòng điện thử bằng 10 lần dòng định mức.
- Tính ổn định nhiệt: khi có dòng điện ngắn mạch chạy qua trong một khoảng thời gian cho phép, các tiếp điểm không bị hư hỏng. Công tắc tơ là thiết bị đóng cắt mạch điện động lực từ xa, dùng trong điều khiển động cơ và các thiết bị động lực, công tắc tơ không có thiết bị bảo vệ.
6.3.2; .Rơ-le điện từ.
6.3.2.1, Cấu tạo:
Hình 6.27 mô tả cấu tạo của rơ-le điện từ, bao gồm các bộ phận chính là mạch từ, cuộn dây, tiếp điểm, vỏ. Mạch từ được chế tạo từ vật liệu sắt từ gồm hai phần, phần tĩnh hình chữ U và phần động là tấm thép hình chữ I. Phần động nối liên kết cơ khí với tiếp điểm động.
Điểm khác biệt cơ bản giữa rơ-le điện từ và công tắc tơ là rơ-le điện từ chỉ có một loại tiếp điểm điều khiển có thể là thường đóng hoặc thường mở, không có hộp dập hồ quang, và không có lò xo nén tiếp điểm mà sử dụng thanh đồng lai tiếp điểm tạo lực nén.


Hình 6.27: Cấu tạo của rơ-le điện từ.
1. Cuộn hút; 2. Mạch từ ; 3. Tấm động; 4. Lò xo; 5. Tiếp điểm động; 6. Tiếp điểm tĩnh thường đóng;7. Tiếp điểm tĩnh thường mở; 8. Đầu nối dây cuộn hút
6.3.2.2, Nguyên lý hoạt động;
Khi có dòng điện chạy qua cuộn dây sẽ sinh ra lực hút điện từ hút tấm động 3về phía lõi và làm thay đổi trạng thái của các tiếp điểm được liên kết chuyển động với tấm động 3.
6.3.2.3, Các thông số cơ bản;
- Điện áp định mức cuộn hút: là điện áp cấp cho cuộn hút làm việc ơ chế độ lâu dài. Điện áp này có thể là một chiều 9V, 12V, 24V, 110V, 220V, 440V, và 24V, 110V, 220V, 440V xoay chiều. Điện áp này ghi trên cuộn hút.
- Điện áp định mức Uđm: điện áp làm việc lâu dài của mạch điện mà rơ-le khống chế, điện áp định mức có thể là 24V, 110V, 220V, 440V một chiều và 24V, 110V, 127V, 220V, 380V, 500V xoay chiều.
- Dòng điện định mức Iđm: dòng điện dài hạn qua tiếp điểm của rơ-le mà không làm hỏng tiếp điểm.
- Tuổi thọ cơ khí: được tính bằng số lần đóng ngắt, thường là vài trăm ngàn lần đóng ngắt không điện, và 1 trăm ngàn lần đóng ngắt có dòng định mức.
- Điện áp cách điện: điện áp thử cách điện.
- Thời gian tác động: là khoảng thơi gian kể từ lúc dòng điện vượt quá giá trị tác động đến lúc phần động được hút hoàn toàn vào phần tĩnh, thường vào khoảng từ 2 – 20ms.
- Tần số tác động: là số lần tác động trong một đơn vị thời gian.
6.3.3; .Rơ-le nhiệt.
6.3.3.1, Cấu tạo:
Rơ-le nhiệt là khí cụ điện chủ yếu được sử dụng để bảo vệ quá tải cho các động cơ điện xoay chiều. Ơ đây chúng ta cần phân biệt rơle nhiệt với rơle nhiệt độ là các role cảm biến với sự thay đổi của nhiệt độ một môi trường nào đó.
Rơ le nhiệt là bộ thiết bị điện để bảo vệ các động cơ điện khỏi quá tải, Rơ le nhiệt có dòng điện làm việc từ vài chục mA tới hàng vài trăm A, sử dụng trong mạng điện điện áp thấp 380V đến 440V xoay chiều và tới điện áp 440V một chiều.

Hình 6.28: Sơ đồ nguyên lí role nhiệt.
Cấu tạo của rơ-le nhiệt được minh họa ở hình 6.28 cuộn dây điện trở 1 gồm một vài vòng dây mắc nối tiếp với mạch cần bảo vệ, thanh bi-metal 2 gồm hai thanh kim loại mỏng có hệ số giãn nở nhiệt khác nhau được dán sát vào nhau để khi nhiệt độ tăng thì thanh sẽ uốn cong, lò xo 6 kéo tiếp điểm động ra khi thanh 2 cong lên, thanh truyền có chốt quay 3, cơ cấu hoàn nguyên 5.
6.3.3.2, Nguyên lý hoạt động;
Mạch điện động lực cần bảo vệ được nối nối tiếp với role nhiệt và khi có quá tải xảy ra Iqt=1.2Idm thì nhiệt lượng qua role nhiệt tăng lên và đốt nóng thanh lưỡng kim làm cho thanh lưỡng kim giản nở vì nhiệt và cong về phía thanh kim loại có hệ số giản nở vì nhiệt nhỏ hơn và kéo theo làm thay đổi trạng thái tiếp điểm của nó. Sau khi đã tác động và không có dòng chạy qua role nhiệt nữa thì thanh lưỡng kim nguội dần nhưng role nhiệt vẫn giữ nguyên trang thái tác động của nó và ta muốn đưa role nhiệt hoạt động trở lại ta phải reset bằng tay.
6.3.3.3, Các thông số kỹ thuật;
Các thông số quan trọng của rơ-le nhiệt là:
- Dòng điện bảo vệ: là dòng điện mà rơ-le nhiệt tác động.
- Điện áp định mức: là giá trị điện áp hoạt động lâu dài của thiết bị mà rơ-le nhiệt bảo vệ.
- Đặc tính ampe – giây của rơ-le nhiệt (lựa chọn đúng rơ-le nhiệt để có được đường đặc tính A-s của thiết bị và A-s của rơ-le nhiệt gần sát nhau. Đường đặc tính của rơ-le nhiệt thấp hơn đường đặc tính của thiết bị một ít. Với thiết bị cần bảo vệ là động cơ điện thì rơ-le nhiệt được chọn sao cho hai đường đặc tính này cắt nhau ở giá trị I/Iđm = 1.1 – 1.2.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
duyduy_1368



Tổng số bài gửi : 12
Join date : 15/11/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: post thử thế nào   Wed Nov 24, 2010 5:37 pm



CHƯƠNG 8. CHIẾU SÁNG TÀU THUỶ.
§8.1; Các lọai nguồn chiếu sáng
8.1.1; Đèn sợi đốt.
8.1.1.1, Cấu tạo:

Hình 8.1 mô tả cấu trúc cơ bản của đè sợi đốt, cấu trúc bao gồm:
- Sợi đốt được chế tạo bằng các vật liệu có khả năng chịu nhiệt cao, khả năng phát quang tốt, khả năng chịu được tác động cơ khí… Thông thừơng sợi đốt được chế tạo bằng sợi Volfram. Sợi đốt được đặt trên giá đờ và 2 đầu được đưa ra ngòai bằng 2 cực.
- Vỏ đèn: làm bằng thủy tinh bên trong là chân không hoặc một ít khí trơ để tạo các màu sắc cho ánh sáng.
- Đuôi đèn: có hai lọai là đui xóay và đui nghạnh.
8.1.1.2, Nguyên lý họat động:
Khi có dòng điện chạy qua sợi đốt làm sợi đốt nóng lên do tính chất của sợi vonfram nó sẽ phát xạ ánh sáng làm đèn sáng.
8.1.1.3, Các thông số cơ bản:
- Điện áp định mức U < 230 v.
- Công suất định mức 1500W trơ xuống.
- Quang thông của đèn : Tuỳ U và P trong bảng sẽ có các giá trị khác nhau.
- Hiệu suất phát quang : từ 7 - 12 lm/w (lumen/wat).
- Tuổi thọ trung bình : 1000 h . Sau 1000h quang thông giảm 75 % coi như đèn hỏng.Tuổi thọ của bóng đèn phụ thuộc rất nhiều vào sự ổn định của điện áp
- Mầu sắc của ánh sáng : vàng + đỏ.
- Ứng dụng: dùng cho chiếu sáng những khu vực thường uyên phải tắt, mở; các đèn đọc sách, chiếu sáng riêng.
Nhược điểm : khả năng phát sáng kém, tiêu thụ công suất lớn.
8.1.2; Đèn huỳnh quang thủy ngân thấp áp
8.1.2.1, Cấu tạo:
Cấu trúc của đèn hùynh quang được mô tả trên hình 8.2 bao gồm:
- Sợi đốt (ca-tốt) được chế tạo bằng các vật liệu có khả năng chịu nhiệt cao và khả năng phát xạ điện tử, thông thừơng sợi đốt được chế tạo bằng sợi Volfram. Có 02 sợi đốt được đặt ở 2 d0ầu của đèn. Mỗi sợi đốt được đưa ra ngòai bằng 02 cực để cấp nguồn nuôi.


Hình 8.2
- Vỏ đèn: là các ống thủy tinh hình trụ được chế tạo với các tiêu chuẩn như chiều dài phổ biến là o,4m, 0,6m, 1,2m … Phía trong ống quét một lớp chất phát quang (phót pho).
- Khỏang không trong ống được hút chân không và để mõt ít khí trơ với áp suất thấp. Màu của ánh sáng phụ thuộc vào lọai khí trơ chứa trong ống.
- Ngòai ra để khởi động đèn còn cần phải có thiết bị khởi động như chấn lưu, starter. Tắc-te là thiết bị mồi, có nhiều loại tắc-te nhưng phổ biến nhất là tắc-te có khí. Tắc-te có khí là một bóng đèn có khí rất nhỏ có các điện cực là thanh lưỡng kim khi có dòng điện đủ lớn đi qua thì làm nóng thanh lưỡng kim và do đó ngắt mạch điện qua nó..
8.1.2.2, Nguyên lý họat động:


Hình 8.3

Sơ đồ mạch nối điện đèn huỳnh quang thủy ngân như hình vẽ 8.3. Các phần tử cơ bản bao gồm tắc-te, chấn lưu và ống hùynh quang.
Khi cấp nguồn ban đầu tắc te kín mạch nên có dòng điện chạy trong mạch qua các cực của đèn làm nóng ca-tốt do đó ca tốt sẽ phát xa đĩện tử ra xung quanh nó. Đồng thời dòng điện cũng làm nóng tắc te nên mở ra ngắt nguồn vào đèn, trong cuận chấn lưu xuất hiện sức điện động tự cảm khá lớn cùng với điện áp nguồn tạo thành điện trường đủ lớn để kéo các điện tử chuyển động về 2 cực. Các điện tử chuyển động va đập vào khí trơ và va đập vào thành ống làm các chất phát quang sáng lên. Khi đèn đã sáng dòng điện tử trong ống đã thông thì cỉ cần một điện áp nhỏ cũng đủ duy trì đòng điện tử trong ống khi đó tòan bộ điện áp nguồn sẽ rơi trên chấn lưu, điện áp trên 2 cực đèn rất nhỏ chỉ khỏang 10% điện áp nguồn do đó các tắc te cũng không thông được,
Tụ điện mắc trước chấn lưu để nâng cao hệ số cosφ , tụ điện mắc sau chấn lưu để chống nhiễu chống các thiết bị vô tuyến.
8.1.2.3, Các thông số cơ bản:
- Hiệu suất phát sáng (40 - 60)lm/W.
- Tuổi thọ khoảng 7000 giờ.
- Mầu sắc của ánh sáng : tùy thuộc vào lọai khí trơ.
- Nhược điểm : khả năng khởi động kém.
- Ứng dụng: dùng cho chiếu sáng công cộng, sinh họat ….

8.1.3; Đèn cao áp thủy ngân.
8.1.3.1, Cấu tạo:
Cấu trúc của đèn cao áp thủy ngân được mô tả trên hình 8.4 bao gồm:





Hình 8.4



Hình 8.5


- Điện cực: có 2 lọai điện cực là điện cực chính và điện cực phụ, điện cực chính để phóng điện, điện cực phụ để khởi động đèn.
- Ống phóng địện sơ cấp làm bằng thủy tinh chịu nhiệt bên trong chứa các chất phát quang và các điện cực.
- Bầu thủy tinh bao phủ bên ngòai, giữa ống phóng điện tử là khỏang chân không có chứa khí trơ. Bầu được chế tạo từ thủy tinh alumin, thạch anh để có thể làm việc ở áp suất hơi và nhiệt độ cao hơn (10000C). Đèn có dạng bóng hình quả trứng hoặc hình ống có đui xoáy.
- Ngòai ra để khởi động đèn còn có chấn lưu hoặc sợi đốt để đốt nóng điện tử.
8.1.3.2, Nguyên lý họat động:
Ban đầu khi đóng điện do điện cực chính và phụ đặt gần nhau sẽ phóng điện do đó các điện tử trong ống phóng sẽ tăng dần lên cho đến khi đủ để thông mạch giữa các điện cực chính khi đó đèn sẽ sáng hòan tòan. Chấn lưu được ma91ch vào mạch có tác dụng tạo từ trường lớn để tăng khả năng khởi động đèn. Một số đè không dùng chấn lưu mà dùng sợi đốt để mở đèn. Với lọai đèn đó ban đầu khi cấp nguồn các sợi đốt sẽ phát sáng giống như đèn sợi đốt, một phần năng lượng được chuyển hóa thành ánh sáng đa phần còn lại chuyển thành nhiệt năng đốt nóng các điện cựu là các điện cực phát xạ điện tử cho đến khi lượng điện tử đủ lớn để thông mạch đèn thì đè sáng lúa đó ánh sáng của đèn cao áp sẽ át hết ánh sáng của đèn sợi đốt.
8.1.3.3, Các thông số cơ bản:
- Hiệu suất phát sáng cao (120)lm/W.
- Tuổi thọ khoảng 10.000 giờ.
- Mầu sắc của ánh sáng : tùy thuộc vào lọai khí trơ.
- Nhược điểm : Thời gian khởi động kéo dài từ 5 – 10 phút..
- Ứng dụng: dùng cho chiếu sáng công cộng ít phải tắt, mở nhiều lần.



§8.2; Các lọai sáng trên tàu thủy
8.2.1; Phân lọai chiếu sáng tàu thủy:.
Căn cứ theo chức năng của chiếu sáng trên tàu thủy người ta chia thành các lọai chiếu sáng sau:
- Chiếu sáng chung: là hệ thống chiếu sáng phục vụ chung trên tàu như các câu lạc bộ, phòng ăn, phòng thuyền viên, buồng máy, buồng lái, buồng máy lái….
Nguồng chiếu sáng chung thường sử dụng các lọai đèn sợi đốt, đèn hùynh quang..
Công suất chiếu sáng từng khu vực được qui định trong Đăng kiểm.
- Chiếu sáng riêng: trên tàu nhiều khu vực ngòai chiếu sáng chung còn trang bị thêm chiếu sáng riêng để tăng cường ánh sáng như bàn đọc sách, đèn hải đồ, các máy công cụ…
Các đèn chiếu sáng riêng yêu cầu phải có thiết bị chỉnh định được độ sáng và hướng, vùng chiếu sáng.
- Chiếu sáng di động: rất nhiều ị trí trên tàu mà chiếu sáng chung không thể nào chiếu sáng tới được vì vậy cần thiết phải trang bị chiếu sáng di động khi đó khi thiết kế hệ thống điện tàu người ta đã trang bị một số ổ cắm ở nhưỡng vị trí cần thiết như buồng máy, buồng máy lái, boong hầm hàng …trên tàu cũng trang bị các đèn di động để sử dụng khi cần thiết.
Nguồn cho chiếu sáng di động dưới buồng máy được yêu cầu là nguồn 24V nhằm đảm bảo an tòan cho người sử dụng.
- Chiếu sáng hành trình và tín hiệu dùng cho hành trình và các tín hiệu heo công ước Quốc tế.
- Chiếu sáng sư cố: được trang bị để khi hệ thống chiếu sáng chính không còn khả năng cung cấp nguồn thì chiếu sáng chính họat động, Chiếu sáng sự cố được cấp nguồn từ nguồn sự cố. Chiếu sáng sự cốu được trang bị ở buồng máy, buồng máy lài, hàng lang boong thuyền viên, lối lên boong cứu sinh, boong cứu sinh, buồng lái, buồng hải đồ, buồng vô tuyến điện…
8.2.2; Hệ thống chiếu sáng hành trình
- Theo công ước Quốc tế của IMO khi các tàu họat động trên biển trong điều kiện tầm nhìn bị hạn chế phải sử dụng hệ thống đèn hành trình.
Đèn hành trình bao gồm các lọai sau:
+ Đèn cột trước: đặt trên cột trước cao hơn so với mặt boong chính từ 6-12 mét, ánh sáng màu trắng, góc chiếu là 225O hắt về phía trước (chỉ các tàu có chiều dài lớn hơn 47,5m mới phải trang bị).
+ Đèn cột sau: đặt trên cột sau cao hơn so với đèn cột trước 6,8 mét, ánh sáng màu trắng, góc chiếu là 225O hắt về phía trước.
+ Đèn mạn phải: đặt trên góc trên bên mạn phải, ánh sáng màu xanh, góc chiếu là 112,5O hắt về phía mạn phải.
+ Đèn mạn trái: đặt trên góc trên bên mạn trái, ánh sáng màu đỏ, góc chiếu là 112,5O hắt về phía mạn trái.
+ Đèn sau lái: đặt trên lan can sau lái, ánh sáng màu trắng, góc chiếu là 135O hắt về phía sau.
- Nguồn cấp cho chiếu sáng hành trình phải được cấp từ 02 nguồn: nguồn chính và nguồn sự cố.
- Đèn hành trình thường sử dụng lọai đèn sợi đốt đặc biệt (chịu được rung lắc cơ học, chịu được ảnh hưởng của môi trường, …) có công suất 60W ( Với nguồn sự cố có thể sử dụng lọai 40W)





Hình 8.6

Hình 8.6 mô tả bố trí các đèn hành trình.
Do yêu cầu về an toàn đối với đèn hành trình mà tại mỗi vị trí thường được lắp 2 đèn: một đèn chính (220V) và một đèn sự cố ( có thể dùng điện 220 V giống đèn chính hoặc dùng 24V). Khi đèn chính bị hỏng thì đèn sự cố tự động sáng lên.
Trạng thái của đèn (hoạt động bình thường, hỏng) phải được chỉ thị trên panel điều khiển trong buồng lái. Khi đèn hỏng phải có báo động bằng đèn chỉ thị và chuông để người sử dụng biết để thay thế.
8.2.2; Hệ thống chiếu sáng tín hiệu.
- Đèn neo được sử dụng để báo kích thước tàu khi neo đậu và bao gồm hai đèn: đèn neo mũi và đèn neo lái, với tàu có chiều dài trên 150m thì bố trí thêm một đèn neo ở khoảng giữa thân tàu. Đèn neo cũng là loại đèn sợi đốt có cấu tạo đặc biệt chịu được rung lắc và ảnh hưởng của môi trường biển. Đèn neo không bị hạn chế vè góc.
- Đèn sự cố không có khả năng điều động ánh sáng đỏ, có 1 hoặc 2 bóng đối xứng nhau qua cột chính.
- Đèn lai dắt sáng khi lai dắt tàu khác, đèn này có màu theo quy định từng nước.
- Đèn hoa tiêu, đèn qua kênh đào, đèn mất chủ động…
Các đèn này đèn được cấp nguồn qua công tắc 2 cực đặt tại bảng đèn tín hiệu trong buồng lái và phải được kiểm tra trạng thái làm việc.
Một cột bao gồm các đèn có các màu trắng, đỏ, xanh (green), xanh (blue) được bố trí như hình vẽ dưới đây . Các đèn này được điều khiển theo các tổ hợp nhất định tạo nên các trạng thái tín hiệu theo các qui định quốc tế và các quốc gia cụ thể. Các trạng thái tín hiệu bao gồm các yêu cầu về hoa tiêu, yêu cầu về cấp cứu y tế, yêu cầu về xử lý hàng hóa, …
Đèn mourse màu trắng sáng nhấp nháy báo đang liên lạc bằng mourse.
Đèn NUC (Not Under Command) sử dụng hai đèn đỏ được đặt cách nhau tối thiểu 2m theo chiều thẳng đứng. Đèn này được trang bị 2 hệ thống độc lập: một được cấp nguồn 220VAC từ bảng điện sự cố, một được cấp nguồn 24VDC sự cố.
Hình 8.7 mô tả bố trí đèn tín hiệu



Hình 8.7



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: post thử thế nào   

Về Đầu Trang Go down
 

post thử thế nào

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 

 Similar topics

-
» Cách post hình
» Hướng dẫn cách post bài lên blog
» hỏi cách post ảnh lên
» Làm cách nào để post NHẠC và VIDEO trực tiếp từ FTP-server ?
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
DIỄN ĐÀN NHÀ TRỌ :: Basket-
Chuyển đến 
Bộ đếm Web miễn phíFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog